Về đầu trang

Sản xuất và thương mại thịt thế giới 2019: sẽ diễn biến ra sao

Posted by admin

THƯƠNG MẠI THỊT TIẾP TỤC SÔI ĐỘNG

Xuất khẩu thịt lợn được dự báo cao hơn 3% do nhu cầu mạnh mẽ từ châu Á và châu Mỹ La tinh. Giá thịt lợn vẫn rất cạnh tranh, thúc đẩy việc đưa các lô hàng đến hầu hết các thị trường. Liên minh châu Âu vẫn sẽ là nhà xuất khẩu hàng đầu, tiếp theo là Hoa Kỳ. Xuất khẩu thịt gà được dự báo sẽ tăng mạnh cao hơn 4% tạo nên kỉ lục mới. Lô hàng của những doanh nghiệp chủ chốt được cung cấp rộng rãi bởi mức tiêu thụ tăng cao ở các thị trường đang phát triển như Philippines, Angola, Cuba và Ghana. Khả năng thích nghi với các điều kiện thị trường mới Ả Rập Xê Út của Brazil thúc đẩy phục hồi xuất khẩu, dù cho khối lượng vẫn ở dưới mức cao lịch sử.

SẢN XUẤT THỊT TRÊN THẾ GIỚI

Thịt bò

Sản lượng toàn cầu được dự báo sẽ tăng nhẹ (1%) trong năm 2019 lên 63,6 triệu tấn, chủ yếu đạt được từ Brazil, Hoa Kỳ và Argentina. Sự mở rộng của Brazil do nhu cầu ổn định trong nước và tăng trưởng xuất khẩu vững chắc sang các thị trường trọng điểm châu Á. Tăng trưởng của Argentina được thúc đẩy, bởi việc tăng khối lượng để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu mạnh mẽ hơn cho các động vật có trọng lượng nặng hơn. Điều kiện thời tiết nóng và khô kéo dài của Australia dẫn đến tình trạng đồng cỏ tệ đi, giá ngũ cốc tăng cao và nguồn cấp nước thấp buộc nhiều gia súc biến thành động vật để lấy thịt. Với số lượng gia súc ít hơn kì vọng vào đầu năm 2019, sản xuất thịt bò được dự báo là sẽ thấp hơn. Dù cho mở rộng việc tăng đàn gia súc vào 2019 thì vẫn sẽ có ít gia súc có sẵn cho việc giết mổ.

Sản lượng toàn cầu được dự báo sẽ tăng nhẹ (1%) trong năm 2019.

Xuất khẩu toàn cầu năm 2019      

 

Xuất khẩu năm 2019 được dự báo ở mức 10,6 triệu tấn khi các lô hàng từ Brazil, Argentinal và Hoa Kỳ bù đắp sự sụt giảm từ Australia và Ấn Độ. Nỗ lực tăng đàn gia súc tại Australia sẽ trở thành ưu tiên trong năm 2019, mang lại cơ hội cho những nhà xuất khẩu chủ chốt để nâng cao chia sẻ thị phần khi nhu cầu thịt bò toàn cầu tăng cao. Nhu cầu thịt bò cao tại Trung Quốc và Hồng Kông vẫn sẽ tiếp tục mạnh mẽ trong khi sản xuất trong nước lại trì trệ, việc bất ổn định của dịch bệnh trong sự cạnh tranh nguồn tiêu thụ thịt giàu chất đạm.

Sản xuất và xuất khẩu của Hoa Kỳ

Sản xuất được dự báo tăng 4% trong năm 2019 lên mức kỷ lục 12,7 triệu tấn phản ánh rõ sự tăng mùa vụ bê gần đây. Xuất khẩu được dự báo tăng 3% lên đến kỷ lục 1,5 triệu tấn, gần 12% sản lượng. Nguồn cung dồi dào, giá cả cạnh tranh và việc sản xuất suy yếu của Australia sẽ thúc đẩy việc đưa các chuyến hàng của Hoa Kỳ đến các thị trường trọng điểm như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mexico và Canada.

Thịt lợn

Sản lượng toàn cầu được dự báo tăng 1% trong năm 2019 lên 114,6 triệu tấn trong khi tiếp tục được mở rộng ở Trung Quốc và Hoa Kỳ. Nền kinh tế toàn cầu tiếp tục phát triển đẩy mạnh nhu cầu thịt lợn ở hầu hết các nước. Sản lượng được dự báo cao hơn 1% ở Trung Quốc nơi có đàn lợn nái lớn hơn và cải thiện năng suất làm tăng nguồn cung lợn. Tuy nhiên, Dịch tả lợn châu Phi (ASF) mới phát hiện gần đây ở Trung Quốc đã tác động đến sự biến động và giá lợn, kết quả là mức độ mở rộng chậm hơn so với năm ngoái. Sản lượng của EU sẽ giảm nhẹ do giá lợn hơi thấp hơn và chi phí thức ăn cao hơn sẽ đưa đến sự giảm bớt trong đàn.

Xuất khẩu toàn cầu được dự báo cao hơn gần 3% trong năm 2019 do nhu cầu mạnh mẽ. Liên minh châu Âu vẫn sẽ là nhà xuất khẩu hàng đầu và nổi bật bởi nhu cầu cao từ châu Á, đặc biệt là Trung Quốc. Xuất khẩu của Brazil sẽ tăng trở lại khi phát triển tới Trung Quốc và Hồng Kông bù đắp cho sự tổn thất ở Nga thị trường hàng đầu trước đó. Nhu cầu nhập khẩu cũng sẽ tăng mạnh ở Mỹ Latinh, vì giá cả hợp lý và việc thay đổi sở thích thúc đẩy tiêu thụ thịt lợn bình quân đầu người. Nhập khẩu của Mexico được dự báo cao hơn 5% và Colombia là cao hơn 29% theo nhu cầu mạnh mẽ. Nhập khẩu của Hàn Quốc sẽ giảm.

Sản xuất và xuất khẩu của Hoa Kỳ: Sản lượng được dự báo tăng 5% trong năm 2019 với lợn hơi giết mổ và trọng lượng thân thịt nặng hơn. Mặc dù giá lợn hơi thấp hơn trong năm nay, các nhà sản xuất dự kiến tăng thêm số lượng lợn hơi trong năm 2019 nhờ các khoản đầu tư đáng kể vào năng lực sản xuất so với 2 năm qua. Giá thịt lợn thấp hơn và nhu cầu toàn cầu tăng ổn định sẽ đưa đến việc xuất khẩu cao hơn gần 4% trong năm 2019, theo sau mức tăng trưởng 6% trong năm 2018. Thuế quan trả miếng đối với thịt lợn Mỹ sẽ hạn chế các chuyến hàng của Mỹ đến Trung Quốc, nhưng giá thấp hơn kì vọng sẽ thúc đẩy sự phát triển tới thị trường hàng đầu là Mexico.

Thị trường lợn hơi phản ứng khi Dịch tả lợn Châu Phi lan rộng ở Trung Quốc

Lindsay Kuberka, Nhà kinh tế học Nông nghiệp cho biết sản xuất thịt lợn của Trung Quốc đã luôn ở trạng thái mở rộng phát triển, tuy nhiên Dịch tả lợn châu Phi (ASF) mới phát hiện gần đây đã làm tăng thêm sự bất ổn định trong ngành. Kể từ ngày 10 tháng 9, 31 vụ dịch bệnh đã xảy ra trên 8 tỉnh – khu vực địa lý chiếm hơn 50% lợn của Trung Quốc. Sự thật về quy mô và khả năng lây lan của bệnh vẫn chưa được biết rõ một cách tường tận. Tuy nhiên việc vận tải và tiếp thị hạn chế ở các tỉnh bị ảnh hưởng và các tỉnh lân cận đã làm gián đoạn chuỗi cung ứng dẫn đến giá lợn hơi tại địa phương có nhiều sự bất đồng. Sự bất ổn và giá lợn hơi thấp do những đợt bùng phát này sẽ làm chậm sự tăng trưởng trong sản xuất lợn và thúc đẩy nhu cầu nhập khẩu thịt lợn trong năm 2019.

Dịch tả lợn Châu Phi lan rộng ở Trung Quốc gây bất ổn trong ngành thịt lợn.

Sản xuất thịt lợn Trung Quốc vẫn tiếp tục phụ thuộc vào mở rộng nguồn cung lợn hơi

Lợi nhuận trong chăn nuôi lợn hơi và lợn nái sẽ thúc đẩy sản lượng thịt lợn của Trung Quốc tăng khoảng 1,2% trong năm 2019, thấp hơn mức tăng trưởng 1,4% trong năm 2018. Việc mở rộng đàn bắt đầu vào năm 2017 đã được tăng tốc lên trong năm 2018, khi có những phản hồi tích cực, thúc đẩy tăng trưởng trong đàn lợn nái đặc biệt là giữa những nhà sản xuất với quy mô lớn. Cung lợn hơi tăng trong nửa đầu năm 2018, nâng giết mổ lên 1,4% và sản lượng được kì vọng vẫn sẽ giữ vững trong nửa sau của năm.

Tuy nhiên, tốc độ mở rộng sẽ chậm lại trong năm 2019, khi các nhà sản xuất tại những vùng có dịch bệnh bị giảm số lượng lợn nái đồng thời giá lợn hơi lại thấp hơn. Hạn chế quá cảnh cản trở việc chuyển heo con đến các trang trại nuôi, từ đó giảm nguồn cung lợn. Về lâu dài, sự bùng phát liên tục của ASF có khả năng thúc đẩy hợp nhất ngành thông qua việc đóng cửa của các nhà sản xuất nhỏ có ít khả năng áp dụng các biện pháp an toàn sinh học và đối phó với dịch bệnh này.

Ở đầu bên kia của thị trường, các nhà tích hợp lớn gần đây đã tuyên bố rằng họ sẽ có kế hoạch đầu tư trở lại. Rất nhiều trong số những công ty này tập trung vào việc mở rộng sản xuất ở phía Bắc Trung Quốc, khu vực mà Chính phủ ưu tiên vì lý do kinh tế và môi trường. Có nhiều khu vực là mục tiêu mở rộng bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi sự bùng nổ của ASF.

Sự bùng nổ của ASF được so sánh với thời điểm bùng nổ dịch Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên lợn (PRRS) năm 2006. Sự bùng nổ PRRS lan rộng ra hầu hết các tỉnh trong vòng vài tháng dẫn đến việc giảm 3% lợn chuồng và 6% đàn lợn nái. Số lượng lợn thấp dẫn đến sản lượng thịt lợn giảm 8% trong năm 2007. Các quan chức Trung Quốc đã nhanh chóng và minh bạch trong việc báo cáo về sự bùng phát của ASF, loại bỏ các đàn gia súc nhiễm dịch, theo  dõi các trang trại và cấm vận chuyển từ vùng này sang vùng khác.

Giá lợn hơi trong khu vực sau khi dịch bệnh bùng phát

Trong suốt năm 2018, giá lợn hơi giảm xuống mức thấp trong nhiều năm – với giá trung bình trong nước thấp hơn 19% so với cùng kì trước tháng 9 năm ngoái. Giá lợn hơi Trung Quốc thường chạm đáy vào tháng Năm và tăng trong suốt mùa hè. Giá cao điểm trong những tháng mùa thu và mùa đông vì nhu cầu thịt lợn cao trong các ngày lễ như Trung Thu hay Tết Nguyên Đán. Năm nay, giá cũng tăng trở lại sau mùa tháng Năm nhưng đã giảm ở nhiều khu vực kể từ khi dịch bùng phát.

Liệu người tiêu dùng có tránh xa thịt lợn?

Tiêu thụ thịt lợn dự kiến sẽ tương đối ổn định trong năm 2019 phù hợp với việc tăng trưởng sản xuất. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của ASF với nhu cầu thịt lợn của người tiêu dùng vẫn chưa rõ ràng. Mặc dù các quan chức Trung Quốc có đưa ra thông báo công khai đảm bảo cho công chúng rằng ASF không có tác động tiêu cực đến sức khỏe người nhưng theo một báo cáo, một số người tiêu dùng đã giảm mua thịt lợn vì mối lo ngại về an toàn thực phẩm. Hiện tượng này có thể làm tăng nhu cầu với thịt gà và các loại chất đạm cạnh tranh khác. Thông thường, những người khai thác dịch vụ thức ăn sẽ tăng cường mua gà, mặc dù điều này dường như là ở những nơi có nguồn cung thấp hơn do hạn chế vận chuyển. Ngoài việc bị gián đoạn nguồn cung thịt lợn, việc giảm nhu cầu đối với thịt lợn nói chung cũng sẽ góp phần đưa đến giá lợn hơi thấp hơn trong năm 2019 và tiếp tục hạn chế tăng trưởng sản xuất.

Thịt gà

Sản lượng toàn cầu được dự báo sẽ tăng 2% trong năm 2019 lên mức kỷ lục 97,8 triệu tấn. Tất cả các nhà sản xuất lớn đều có thể nắm lấy điều này trên sự tiếp diễn của các điều kiện tích cực nói chung như: Nguồn cung cấp thức ăn dồi dào với giá tương đối thấp, sự vắng mặt của cúm gia cầm có khả năng bùng phát gây bệnh cao (HPAI) và nhu cầu khiêm tốn trên toàn cầu. Brazil được kì vọng là sẽ hồi phục và đạt được kỷ lục mới nhờ phục hồi xuất khẩu và nhu cầu trong nước tăng cao được khuyến khích bởi một nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ. Liên minh châu Âu (EU) cũng được kì vọng sẽ đạt kỷ lục mới do sự gia tăng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Sự suy thoái kinh tế EU không tác động tiêu cực đến tiêu thụ, mà thay vào đó là thúc đẩy nhu cầu vì thịt gà có giá cả cạnh tranh và dễ dàng chuẩn bị. Trung Quốc tiếp tục bị thử thách bởi các lệnh cấm liên quan đến HPAI, điều này làm hạn chế nguồn cung của các loài có gen di truyền nhập khẩu. Mặc cho có hạn chế này, Trung Quốc được đự báo vẫn sẽ tăng 3% dù sản xuất vẫn còn ở dưới mức cao lịch sử.

Xuất khẩu toàn cầu được dự báo sẽ tăng mạnh 4% trong năm 2019 lên tới mức kỷ lục 11,6 triệu tấn. Các nhà xuất khẩu hàng đầu Brazil và Hoa Kỳ sẽ kiếm được lợi nhuận lớn nhất, mặc dù sự tăng trưởng từ châu Âu, Thái Lan và Ukraine cũng vô cùng đáng chú ý.

Khả năng thích ứng với điều kiện thị trường Ả Rập Xê Út mới (giết mổ không gây mê) sẽ cho phép Brazil được hưởng lợi từ nhu cầu mạnh mẽ tại thị trường trọng điểm Trung Đông. Nhu cầu lớn tại châu Á, đặc biệt là từ Hồng Kông, Nhật Bản và Philippines sẽ có lợi cho nhiều chủ hàng. Tiêu thụ tại các thị trường đang phát triển như Angola, Cuba và Ghana tiếp tục giữ vững, cũng làm đòn bẩy cho thương mại.

Sản xuất và xuất khẩu của Hoa Kỳ: Sản xuất dự kiến sẽ tăng 2% lên mức kỷ lục 19,7 triệu tấn trong năm 2019 nhờ sự tăng trưởng nhu cầu trong và ngoài nước. Xuất khẩu sẽ tăng 3% lên đến hơn 3,2 triệu tấn. Các lô hàng tại Mỹ vẫn sẽ ở dưới mức năm 2014 do HPAI – liên quan đến mặt hạn chế của Trung Quốc.

Nguồn : https://apps.fas.usda.gov/psdonline/circulars/

Trả lời